HOÀNG TINH

HOÀNG TINH

Rhizoma Polygonati

1. Tên gọi khác:

_Tên Việt Nam: Cây cơm nếp. Hoàng tinh hoa đỏ. Hoàng tinh lá mọc vòng.

_Tên khác: Hoàng chi (Thụy Thảo Kinh), Mậu ất chi (Ngũ phù kinh), Thỏ trúc, Lộc trúc, Cứu cùng thảo, Trùng lâu, Kê cách, Thùy châu, Mã tiển, Bạch cập, Cẩu cách, Uy nhụy, Tiên nhân dư lương (Biệt Lục), Mễ bô, Dã sinh khương (Bản Thảo Mông Thuyên), Long hàm (Quảng nhã), Cứu hoang thảo (Cương Mục Thập Di), Hoàng tôn, Hoàng y, Hoàng độc, Phi anh, Ty thái, Ngọc chi thảo, Thái dương thảo, Trúc đại căn, Sa điền tùy (Hòa Hán Dược Khảo), Bút quản thái (Tục Danh), Chế hoàng tinh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

2. Tên khoa học:

_Tên cây: Polygonatum kingianum Coll. etHemslPolygonatum Multiflorum LPolygonatum sibiricum Redoute

_Họ Hành tỏi (Liliaceae).

3. Mô tả:

_Cây loại cỏ sống lâu năm, thân rễ mọc ngang, có khi phân nhánh, mẫm lên thành củ màu vàng trắng, hơi dẹt nên có sẹo lõm là vết thân còn sót lại, đường kính vết thân có thể đạt tới 2cm. Chiều dài củ có thể tới 30-35cm, rộng tới 6-7cm và dày tới 2-3cm. Thân mọc đứng nhẵn bóng, cao 50-80cm. Lá không cuống mọc vòng trong 4-5 lá một. Phiến lá hình mác dài 712mm, rộng 5-12mm, đầu lá nhọn và quăn. Hoa mọc ở kẽ lá rũ xuống; cuống hoa dài 1.5-2cm, mỗi cuống mang hai hoa hình ống dài 8-15mm màu tím đỏ. Mùa hoa ở Sapa (Lào Cai) vào tháng 3-4. Quả mọng, hình cầu đường kính 710gram, khi chín có màu tím đen.

_Mọc hoang ở những nơi rừng ẩm, đất nhiều mùa trên các núi có lẫn đá xanh, ở các tỉnh miền Bắc. Quanh thị trấn Sapa có nhiều.

4. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến, bảo quản:

4.1. Bộ phận dùng:

_Thân rễ phơi hay sấy khô.

4.2. Thu hái:

_Thường sau 5 năm mới thu hoạch. Hái thân rễ vào mùa thu hoặc mùa xuân, tốt nhất vào mùa thu vì thân rễ chứa ít nước, có những nơi thu hái gần quanh năm từ tháng 4 đến tháng 10.

4.3. Chế biến:

_Phương pháp xưa:

+ Đào được lấy nước suối khe rửa sạch chưng từ giờ tỵ tới giờ tý (6 giờ). Xắt mỏng phơi nắng dùng (Lôi Hiệu).

+ Mới đào lên rửa sạch, đồ kỹ một đêm, xắt mỏng phơi khô làm như vậy cho được chín lần gọi là “Hoàng tinh cửu chưng cửu sái”, nếu không chế thì sẽ gây ngứa cổ họng (Mạnh Sằn).

_Phương pháp nay: Có 4 cách bào chế thường dùng:

+ Cách 1: Mới thu hái về rửa sạch cho vào nồi ngập nước đun sôi chừng nửa giờ, xong đổ nước này đi để tránh gây ngứa, thường khi thu mua người ta đã làm qua cách này để nhẹ nhàng và dễ bảo quản. Xong đổ nước sôi khác vào ngập quá chừng 5cm đun cho tới khi cạn (ở dưới phải có vĩ để phòng cháy khét), phơi khô, lấy nước cốt còn lài tẩm hơi nhiều lần cho đến khi hết nước và củ không còn dính tay là được. Sau đó lại cho củ Hoàng tinh nói trên vào cóng đồng hay nhuôm để hở nắp, đặt cóng này vào nồi nước đầy 2/3 đậy vung lại, chưng cách thủy. Đun như vậy trong 6-8 giờ, nếu khô nước ở nồi phải châm thêm. Lấy ra phơi khô tẩm nước trong cóng cho tới khi không dính tay là được.

+ Cách 2: Đem Hoàng tinh rửa sạch, ngâm nước một đêm, bỏ nước này đi nếu chưa luộc qua đế tránh ngứa. Cho vào nồi có pha mật mía lỏng và ít gừng (tỷ lệ cứ 1kg Hoàng tinh thì dùng 250ml mật, 250ml nước, và 25gr gừng giã dập). Đun cho tới khi gần cạn hết nước mật còn lại tẩm phơi cho đến khi hết. Đồ phơi như vậy 9 lần.

+ Cách 3: Y như cách thứ 2 nhưng thay mật bằng đậu đen và làm như trên.

+ Cách 4: Lấy Hoàng tinh tươi, rửa kỹ cho thật sạch, thái nhỏ rồi giã nát, ngâm với nước một ngày. Trộn đều. Sau đó trộn lên gạn lấy nước, để lắng thay vào đó nước khác rồi lại làm như hôm trước được chín lần như thế, khi nước lắng ta sẽ gạn được bột đem phơi khô.

 

4.4. Bảo quản:

_Bột và củ đều phải được để nơi khô ráo, nếu củ bị mốc thì phun rượu lau sạch rồi đồ lại sấy khô.

 

5. Thành phần hóa học:

_Chất nhày, tinh bột, đường, nhiều loại acid amin, ancaloit, nhiều loại hợp chất anthraquinone.

6. Tính vị qui kinh:

_Vị ngọt, tính bình.

_Qui kinh Tỳ, Vị, Phế.

 

7. Tác dụng dược lý:

7.1. Theo Y học cổ truyền:

_Tư âm nhuận phế, bổ tỳ ích khí. Chủ trị chứng ho do phế táo âm hư, thận hư tinh tổn, chứng tiêu khát, tỳ vị hư nhược.

7.2. Theo nghiên cứu dược lý hiện đại:

_Thuốc có tác dụng hạ áp, tăng lưu lượng máu động mạch vành, hạ lipid huyết và làm giảm xơ cứng mạch vành (cũng có báo cáo nói không có tác dụng hạ lipid huyết).

_Cho thỏ uống cao lỏng Hoàng tinh, đường huyết lúc đầu cao sau hạ, có tác dụng ức chế adrenalin làm tăng đường huyết.

_Thuốc có tác dụng tăng miễn dịch cơ thể, thúc đẩy sự tổng hợp DNA, RNA và protid, polysaccharit của Hoàng tinh có tác dụng chuyển dạng lympho bào. Thuốc làm giảm hàm lượng cAMP và cGMP trong huyết tương.

_Thuốc có tác dụng ức chế đối với nấm gây bệnh thường gặp trực khuẩn thương hàn, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lao. Thuốc có hiệu quả rõ rệt đối với bệnh lao, trên thực nghiệm.

8. Một số ứng dụng:

_Đơn thuốc bổ dùng cho người yếu, ho, lao lực:

Hoàng tinh 15g, Ý dĩ l0g, nuớc 600ml, sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày.

_Trị chứng huyết áp thấp: dùng Hoàng tinh 30g, Đảng sâm 30g, Chích thảo 10g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Trị 10 ca đều có kết quả khỏi trước mắt (Diệp thế Thương, trị 10 ca huyết áp thấp dùng bài Đảng sâm, Hoàng tinh, Cam thảo thang, Tạp chí Y trung cấp 1981).

_Trị chứng lipid huyết cao: dùng viên hạ mỡ (Hoàng tinh, Hà thủ ô, Tang ký sinh) uống liên tục trong 2 tháng. Trị 86 ca, kết quả cholesterol hạ bình quân 38.2 – 47.1mg%, tỷ lệ kết quả 87.9% (Chu dục Nhân và cộng sự. Một số tình hình điều trị chứng lipid máu cao bằng Trung thảo dược, Báo Tân y học 1977).

_Trị chứng cận thị học sinh: dùng Hoàng tinh 90 cân, Đậu đen 10 cân, Đường trắng 15 cân, chế thành sirô mỗi ml có 1g Hoàng tinh. Mỗi người uống mỗi lần 20ml, ngày 2 lần, hoặc mỗi ngày, mỗi người Hoàng tinh 50g, Đậu đen 10g, chia 2 lần, sắc uống, trước khi uống cho thêm rượu vàng 10ml. Đã trị 82 con mắt, kết quả rõ 26 con, tiến bộ 22 con, tỷ lệ kết quả 59.75% (Lý Quang Viễn, Định chí hoàn, Báo cáo sirô Hoàng tinh trị cận thị học sinh, Báo Trung y Hà nam 1981).

_Trị lao phổi: Hoàng tinh chế thành cao lỏng (mỗi ml có 5g thuốc), mỗi lần uống 10ml, ngày 4 lần. Đã trị 19 ca, có kết quả 84.2% trong đó khỏi 21.0%, đờm chuyển âm tính 66.6% (Phùng Ngọc Long, Báo cáo về Hoàng tinh trị lao phổi, Báo Y học Triết giang 1960).

_Trị nấm chân tay: dùng Hoàng tinh 100g xắt nhỏ cho vào lọ thêm cồn 75% 250ml, bịt kín ngâm trong 15 ngày, lọc qua gạc 4 lớp, vắt hết nước bỏ xác, thêm dấm thường 150ml trộn đều. Rửa sạch vùng bị nấm lau khô, bôi thuốc ngày 3 lần. Đã trị 67 ca, khỏi 55 ca, tiến bộ 12 ca (Đới Vi Quần, trị nấm chân tay bằng bôi ngoài cồn dấm Hoàng tinh, Tạp chí Trung y Sơn đông 1986).

_Trị tai điếc do nhiễm độc thuốc: dùng dịch tiêm Hoàng tinh 100%, tiêm bắp 2 - 4ml (tương đương 2 - 4g thuốc sống), đồng thời mỗi ngày tiêm bắp Vit B1 100mg, uống Vit A 25.000 đơn vị, ngày 3 lần, hoặc mỗi ngày uống viên Hoàng tinh tương đương 10g thuốc sống. Đã trị 100 ca, khỏi 9 ca, có kết quả 22 ca, ngưng tiến triển 3 ca, vẫn tiến triển 3 ca, số còn lại không kết quả, tỷ lệ kết quả 34% (Lưu Đĩnh và cộng sự, Hoàng tinh trị điếc do nhiễm độc thuốc, Tạp chí Trung tây y kết hợp 1982).

_Trị suy nhược cơ thể sau khi mắc bệnh: thường phối hợp với Kỷ tử, Sinh địa, Hoàng kỳ, Đảng sâm dùng bài:

Hoàng tinh thang: Hoàng tinh 24g, Kỷ tử 12g, Sinh địa 20g, Hoàng kỳ 12g, Đảng sâm 12g, sắc nước uống.

9. Chú ý:

_Dùng ngoài tùy theo yêu cầu. Thuốc có tác dụng hòa hoãn nên thời gian dùng thuốc có thể kéo dài để tư bổ.

_Những trường hợp tỳ hư có thấp, ho đờm nhiều, bụng đầy, tích trệ hoặc tỳ vị hư hàn, tiêu phân lỏng, không nên dùng.

 
Share
Other Writing